Câu 17: phân tích làm rõ quan điểm chỉ đạo và chủ trương về xây dựng và phát triển nền văn hóa? Ý nghĩa thực tiễn?

a)     Các quan điểm chỉ đạo và chủ trương về xây dựng và phát triển văn hoá

Một là, văn hoá là nền tảng tinh thần của XH, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế XH

-Văn hoá là nền tảng tinh thần của XH.

Văn hoá được tạo thành bởi một hệ các giá trị tạo nên bản sắc của mỗi dân tộc, các giá trị này thấm nhuần trong mỗi con người và cả cộng đồng, được tiếp nối qua các thế hệ, được vật chất hoá bền vững trong cấu trúc kinh tế XH. Nó tác động hàng ngày đến cuộc sống vật chất tinh thần của mọi thành viên bằng môi trường văn hoá XH. Vì vậy chúng ta phải làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống XH, đó là con đường để các giá trị văn hoá trở thành nền tảng tinh thần bền vững của XH trở thành động lực phát triển kinh tế XH

-Văn hoá là động lực thúc đẩy sự phát triển

Văn hoá là kết quả của sự sáng tạo con người thể hiện tiềm năng sáng tạo của dân tộc .Vì vậy nó là nguồn lực nội sinh cho sự phát triển của dân tộc đó. Kinh nghiệm đổi mới thành công đã chứng minh luận điểm trên. Trong nền kinh tế tri thức, hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống càng cao bao nhiêu thì khả năng phát triển KT-XH càng hiện thực và bền vững bấy nhiêu.

Văn hoá đóng vai trò động lực và điều tiết trong kinh tế thị trường. Văn hóa VN đương đại sẽ là một tiền đề quan trọng đưa nước ta hội nhập sâu hơn và toàn diện hơn vào nền KT thế giới. Văn hóa cổ vũ, hướng dẫn cho một lối sống hài hòa và chừng mực với hành tinh của chúng ta, vì sự phát triển bền vững cho thế hệ hôm nay và thế hệ mai sau.

-Văn hoá là một mục tiêu của phát triển

Mục tiêu của văn hóa chính là: “dân giàu nước mạnh, XH công bằng dân chủ văn minh”. Chiến lược phát triển KT-XH 1991-2000 xác định: mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người. Đó là chiến lược phát triển bền vững. Trong thực tế nhận thức và hành động, mục tiêu KT vẫn thường lấn át mục tiêu XH. Văn hoá vẫn thường bị xem là đứng ngoài kinh tế. Hệ qủa là KT có thể tăng trưởng nhưng văn hoá bị suy giảm. Chúng ta phải chủ trương phát triển văn hóa gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển KT-XH, khai thác tiềm năng kinh tế của văn hoá.

– Văn hoá có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người và xây dựng XH mới.

Tài nguyên thiên nhiên đều có hạn, chỉ có tri trức con người mới là vô hạn. Quốc gia nào đạt thành tựu giáo dục cao, có vốn trí tuệ toàn dân nhiều thì quốc gia đó vó khả năng tăng trưởng dồi dào. Văn hóa trực tiếp tạo dựng và nâng cao vốn “tài nguyên người”

Hai là, nền văn hoá mà ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ với nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH. Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong phương tiện chuyển tải nội dung.

Bản sắc dân tộc bao gồm cả những giá trị văn hoá truyền thống bền vững của dân tộc VN; bản sắc dân tộc thể hiện sức sống bên trong của dân tộc, đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống. Bản sắc dân tộc cũng phát triển theo thể chế kinh tế, xã hội và chính trị của quốc gia, theo quá trình hội nhập, giao lưu, tiếp nhận văn minh nhân loại.

Để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta chủ trương vừa bảo vệ bản sắc dân tộc, vừa mở rộng giao lưu, tiếp thu văn hóa nhân loại; xây dựng VN thành một địa chỉ giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế.

Ba là, nền văn hoá VN là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc VN.

Mỗi thành phần dân tộc có truyền thống và bản sắc của mình, nhưng cả cộng đồng các dân tộc VN có nền văn hoá chung thống nhất.Thống nhất cả bao hàm tính đa dạng, đa dạng trong sự thống nhất, không có sự đồng hóa hoặc thôn tính, kỳ thị bản sắc văn hóa các dân tộc. Bảo vệ bản sắc dân tộc, chống lạc hậu lỗi thời, mở rộng giao lưu tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại là nhiệm vụ của chúng ta.

Bốn là, xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân, do đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ tri thức giữ vai trò quan trọng.

CM là sự nghiệp của quần chúng thì xây dựng văn hoá là công việc do mọi người cùng thực hiện. Làm cho văn hoá thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống XH, thực hành văn hoá là hoạt động hàng ngày của mỗi người dân. Đội ngũ tri thức gắn bó với nhân dân giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp này.

Năm là, giáo dục đào tạo cùng với khoa học và công nghệ được coi là quốc sách hàng đầu

Hội nghị TW2, khoá VIII (tháng 12-1996) Đảng ta đã xác định: cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Thực hiện quốc sách này, chúng ta chủ trương: nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chuyển dần sang mô hình giáo dục mở, đổi mới mạnh mẽ hệ thống giáo dục, nâng cao trình độ giáo viên, thực hiện XH hóa giáo dục, tăng cường hợp tác quốc tế, đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ.

Sáu là, văn hoá là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng

Văn hoá là một mặt trận của cách mạng VN, quan trọng và gian khổ không kém mặt trận kinh tế, mặt trận chính trị. Hoạt động xây và chống trong văn hoá là quá trình cách mạng lâu dài khó khăn phức tạp và cần có ý chí cách mạng có tính chiến đấu tính kiên trì thận trọng, đòi hỏi nhiều thơi gian.

b)    Ý nghĩa thực tiễn

Trong những năm qua, cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền văn hóa mới đã bước đầu được tạo dựng; quá trình đổi mới tư duy, xây dựng con người phát triển rõ rết; hợp tác quốc tế về văn hóa được mở rộng.

Giáo dục đào tạo có bước phát triển mới. Quy mô giáo dục mở rộng, chất lượng có chuyển biến. Dân trí tiếp tục được nâng cao.

Khoa học và công nghệ phát triển hơn, phục vụ thiết thực hơn cho nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội.

Đời sống văn hóa và nếp sống văn minh có tiến bộ ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước.

Những thành tựu thực tiễn chứng tỏ đường lối, chính sách văn hóa của Đảng và nhà nước đã và đang phát huy tác dụng tích cực, định hướng đúng đắn cho sự phát triển đời sống văn hóa. Những thành tựu này cũng là kết quả của sự tham gia tích cực của nhân dân và những nỗ lực rất lớn của các lực lượng hoạt động trên lĩnh vực văn hóa.

Câu 16: Quá trình đổi mới tư duy về xây dựng và phát triển nền văn hóa nước ta từ đại hội VI đến đại hội X?

Từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đến Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X đa hình thành từng bước nhận thức mới về đặc trưng, vai trò, vị trí của nền văn hóa mới trong phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.

– Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI Xác định khoa học – kỹ thuật là một động lực to lớn đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế – xã hội; có vị trí then chốt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Lần đầu tiên đưa ra quan niệm nền văn hóa Việt Nam có 2 đặc trưng: tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc thay cho quan niệm nền văn hóa Việt Nam có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, có tính Đảng và tính nhân dân được nêu ra trước  đây. Cương lĩnh chủ trương xây dựng nền văn hoá mới, tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú, đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ; khẳng định và biểu dương những giá trị chân chính, bồi dưỡng cái chân, cái thiện, cái mỹ theo quan điểm tiến bộ, phê phán những quan điểm thấp kém; khẳng định tiếp tục tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa, làm cho thế giới quan Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao. Chống tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái với truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và những giá trị cao quý của con người, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.

Xác định khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu.

– Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII, VIII, IX, X và nhiều Hội nghị Trung ương xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển. Đây là một tầm nhìn mới về văn hóa.

– Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII, VIII khẳng định khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới; do đó, phải xem sự nghiệp giáo dục – đào tạo cùng với khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người – động lực trực tiếp của sự phát triển xã hội.

– Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (7/1998): chỉ ra 5 quan điểm cơ bản chỉ đạo quá trình phát triển văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

– Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX (01/2004): xác định phát triển văn hóa đồng bộ với phát triển kinh tế.

– Nghị quyết Trung ương 10 khóa IX (7/2004): đặt vấn đề bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với nhiệm vụ không ngừng nâng cao văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức của Đảng về vị trí của văn hóa và công tác văn hóa trong quan hệ với các mặt công tác khác. Hội nghị Trung ương 10 khóa IX nhận định về sự biến đổi của văn hóa trong quá trình đổi mới: cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế làm thay đổi mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, thúc đẩy dân chủ hóa đời sống xã hội, đa dạng hóa thị hiếu và phương thức sinh hoạt văn hóa; do đó, phạm vi, vai trò của dân chủ hóa – xã hội hóa văn hóa và của cá nhân ngày càng tăng và mở rộng là những thách thức mới đối với sự lãnh đạo và quản lý công tác văn hóa của Đảng và Nhà nước.

Câu 15: làm rõ nội dung Đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển nền văn hóa và giải quyết những vấn đề xã hội trong thời kỳ đổi mới.

1. Quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng văn hóa qua các giai đoạn:

1.1 Giai đoạn 1943 – 1954:

– “Đề cương văn hóa Việt Nam” xác định lĩnh vực văn hóa là một trong 3 mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) của cách mạng Việt Nam và đề ra 3 nguyên tắc của nền văn hóa mới: dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa. Nền văn hóa mới Việt Nam có tính chất dân tộc về hình thức, dân chủ về nội dung. Từ quan điểm và chủ trương trên, đến trước 09/1945, Đảng ta xác định nhiệm vụ đầu tiên xây dựng văn hóa của nước Việt Nam độc lập là chống nạn mù chữ và giáo dục lại tinh thần nhân dân.

– Trong báo cáo “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam” (7/1948) đường lối văn hóa kháng chiến gồm những nội dung cụ thể sau:

+ Xác định mối quan hệ giữa văn hóa và cách mạng giải phóng dân tộc, cổ động văn hóa cứu quốc.

+ Xây dựng nền văn hóa dân chủ mới Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng mà khẩu hiệu thiết thực lúc này là dân tộc, dân chủ (nghĩa là yêu nước và tiến bộ).

+ Tích cực bài trừ nạn mù chữ, mở trường đại học và trung học, cải cách việc học theo tinh thần mới, bài trừ cách dạy học nhồi sọ.

+ Giáo dục lại nhân dân, cổ động thực hành đời sống mới.

+ Phát triển cái hay trong văn hóa dân tộc.

+ Bài trừ cái xấu xa hủ bại, ngăn ngừa sức thâm nhập của văn hóa thực dân, phản động; đồng thời, học cái hay, cái tốt của văn hóa thế giới.

+ Hình thành đội ngũ trí thức mới đóng góp tích cực cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc và cho cách mạng Việt Nam.

1.2 Giai đoạn 1955 – 1986:

– Đại hội Đảng lần III (9/1960) chủ trương tiến hành cuộc cách mạng tư tưởng và văn hóa đồng thời với cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học – kỹ thuật, xây dựng và phát triển nền văn hóa mới, con người mới. Mục tiêu là làm cho nhân dân thoát nạn mù chữ và thói hư tật xấu do xã hội cũ để lại, có trình độ văn hóa ngày càng cao, có hiểu biết cần thiết về khoa học, kỹ thuật tiên tiến để xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa.

– Đại hội Đảng lần IV (12/1976) và lần V (3/1982) tiếp tục đường lối phát triển văn hóa của Đại hội III, xác định nền văn hóa mới là nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, có tính đảng và tính nhân dân. Nhiệm vụ văn hóa quan trọng trong giai đoạn này là tiến hành cải cách giáo dục trong cả nước, phát triển mạnh khoa học, văn hóa nghệ thuật, giáo dục tinh thần làm chủ tập thể, chống tư tưởng tư sản và tàn dư tư tưởng phong kiến, phê phán tư tưởng tiểu tư sản, xóa bỏ ảnh hưởng của tư tưởng, văn hóa thực dân mới ở miền Nam.

2. Đánh giá sự thực hiện đường lối:

2.1 Kết quả và ý nghĩa:

Kết quả:

– Nền văn hóa dân chủ mới đã đạt nhiều thành tựu trong kháng chiến và kiến quốc:

+ Xóa bỏ dần những mặt lạc hậu, những cái lỗi thời trong di sản văn hóa phong kiến, trong nền văn hóa nô dịch của thực dân Pháp; bước đầu xây dựng nền văn hóa dân chủ mới với tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng.

+ Hoàn thành xóa nạn mù chữ, phát triển hệ thống giáo dục, thực hành rộng rãi đời sống mới; bài trừ hủ tục, lạc hậu.

+ Văn hóa cứu quốc đã động viên nhân dân tham gia tích cực vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Ý nghĩa:

– Thành tựu trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa những năm thời kỳ trước đổi mới đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của cả nước.

– Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không chỉ là thắng lợi của đường lối chính trị, quân sự đúng đắn mà còn là thắng lợi của chính sách văn hóa của Đảng – thắng lợi của chủ nghĩa yêu nước và nhân phẩm Việt Nam, của những giá trị tinh thần cao quý của con người Việt Nam.

2.2 Hạn chế và nguyên nhân:

Hạn chế:

Công tác tư tưởng và văn hóa thiếu sắc bén, thiếu tính chiến đấu. Việc xây dựng thể chế văn hóa còn chậm. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống có chiều hướng phát triển. Đời sống văn học, nghệ thuật còn những mặt bất cập. Rất ít tác phẩm đạt đỉnh cao tương xứng với sự nghiệp cách mạng và sáng kiến vĩ đại của dân tộc. Một số công trình văn hóa vật thể và phi vật thể truyền thống có giá trị không được quan tâm bảo tồn, lưu giữ, thậm chí bị phá hủy, mai một.

Nguyên nhân:

– Đường lối xây dựng, phát triển văn hóa trong giai đoạn này bị chi phối bởi tư duy chính trị “nắm vững chuyên chính vô sản” mà thực chất là nhấn mạnh đấu tranh giai cấp, đấu tranh “ai thắng ai” giữa hai con đường, giữa hai phe, đấu tranh ý thức hệ.

– Mục tiêu, nội dung của cuộc cách mạng tư tưởng và văn hóa giai đoạn này bị qui định bởi cách mạng quan hệ sản xuất mà tư tưởng chỉ đạo là triệt để xóa bỏ tư hữu, xóa bỏ bóc lột càng nhanh càng tốt, là đưa quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đi trước một bước, tách rời trình độ phát triển thực tế của lực lượng sản xuất.

– Chiến tranh cùng với cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp và tâm lý bình quân chủ nghĩa đã làm triệt tiêu động lực phát triển văn hóa, giáo dục; kìm hãm năng lực tự do sáng tạo.

Câu 13: Tiến trình nhận thức của Đảng về đổi mới hệ thống chính trị và phân tích những nhận thức mới về xây dưng hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới?

1. Nhận thức mới về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị

– Nhận thức: đổi mới là một quá trình. Quá trình này bắt đầu từ đổi mới kinh tế, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, đồng thời, từng bước đổi mới hệ thống chính trị.

– Đổi mới thành công về kinh tế sẽ tạo điều kiện cơ bản để tiến hành đổi mới hệ thống chính trị thuận lợi. Hệ thống chính trị được đổi mới kịp thời, phù hợp sẽ là điều kiện quan trọng để thúc đẩy đổi mới và phát triển kinh tế.

2.Nhận thức mới về mục tiêu đổi mới hệ thống chính trị

– Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) khẳng định: “Trong toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân ”.

– Báo cáo Chính trị (Đại hội VII) chỉ rõ: thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị nước ta là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới.

3. Nhận thức mới về đấu tranh giai cấp và về động lực chủ yếu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

– Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam: “Trong thời kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng cơ cấu, vị trí, tính chất của các giai cấp trong xã hội đã có nhiều thay đổi cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội. Mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công,…”.

– Động lực chủ yếu phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội.

4. Nhận thức mới về cơ cấu và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị

– Hệ thống chính trị ở nước ta vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý; trong đó, Đảng vừa là một bộ phận của hệ thống chính trị, vừa là hạt nhân lãnh đạo hệ thống ấy, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

– Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có chức năng thể chế hóa và tổ chức thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng.

– Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị của các đoàn thể nhân dân và cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ, có vai trò quan trọng trong việc phản biện, giám sát xã hội, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

– Nhân dân là người làm chủ xã hội, làm chủ thông qua Nhà nước và các cơ quan đại diện; đồng thời, làm chủ trực tiếp ở cơ sở thông qua cơ chế dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra; làm chủ thông qua hình thức tự quản.

5. Nhận thức mới về xây dựng Nhà nước pháp quyền trong hệ thống chính trị

– Thuật ngữ về “xây dựng nhà nước pháp quyền” lần đầu tiên được đề cập tại Hội nghị Trung ương 2 khóa VII.

– Các Hội nghị và Đại hội Đảng sau đó tiếp tục khẳng định nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và làm rõ thêm nội dung của nó:

+ Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật.

+ Pháp luật giữ vị trí tối thượng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.

+ Người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, có quyền tự do sống và làm việc theo khả năng, sở thích của mình trong phạm vi pháp luật cho phép.

6. Nhận thức mới về vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị

Nhận thức rõ hơn về vai trò, vị trí, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị. Đảng Cộng sản cầm quyền là Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không làm thay Nhà nước. Đảng quan tâm xây dựng, củng cố Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, phát huy vai trò của các thành tố này trong quản lý, điều hành xã hội. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải đồng bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế.

Câu 12: mục tiêu và quan điểm cơ bản về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay?

1. Mục tiêu và quan điểm cơ bản
a) Thể chế kinh tế và thể chế kinh tế thị trường
– Thể chế kinh tế: Thể chế kinh tế nói chung là một hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh tế.Nó bao gồm các yếu tố chủ yếu là các đạo luật, quy chế, quy tắc, chuẩn mực về kinh tế gắn với các chế tài về xử lý vi phạm, các tổ chức kinh tế, các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế, truyền thống văn hóa và văn minh kinh doanh, cơ chế vận hành nền kinh tế.
– Thể chế kinh tế thị trường: là một tổng thể bao gồm các bộ quy tắc, luật lệ và hệ thống các thực thể, tổ chức kinh tế được tạo lập nhằm điều chỉnh hoạt động giao dịch, trao đổi trên thị trường.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vừa tuân theo các quy luật của kinh tế thị trường vừa chịu sự chi phối của các yếu tố bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hiểu là thể chế kinh tế thị trường, trong đó các thiết chế, công cụ và nguyên tắc vận hành được tự giác tạo lập và sử dụng để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
b) Mục tiêu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
– Mục tiêu cơ bản đến năm 2020: làm cho các thể chế phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường, thúc đẩy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững, hội nhập kinh tế quốc tế thành công, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa,xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
– Mục tiêu cụ thể những năm trước mắt:
Một là, từng bước xây dựng hệ thống pháp luật, bảo đảm cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển thuận lợi. Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước đi đôi với phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp. Hình thành một số tập đoàn kinh tế , các tổng công ty đa sở hữu, áp dụng mô hình quản trị hiện đại, có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Hai là, đổi mới cơ bản mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công.
Ba là, phát triển đồng bộ, đa dạng các loại thị trường cơ bản thống nhất trong cả nước, từng bước kiên thông với thị trường khu vực và thế giới.
Bốn là, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường.
Năm là, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý của Nhà nước và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn tể chính trị – xã hội và nhân dân trong quản lý phát triển kinh tế – xã hội.
c) Quan điểm về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
– Nhận thức đầy đủ, tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của kinh tế thị trường…
– Đảm bảo tính đồng bộ giữa các bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế, giữa các yếu tố thị trường…
– Kế thừa có chọn lọc thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại, kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn đổi mới ở nước ta
– Chủ động, tích cực giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng… vừa làm vừa tổng kết rút kinh nghiệm
– Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước…

 

Câu 11: phân tích làm rõ thành tựu hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới CNH-HĐH đất nước?

1. Những thành tựu

Hai mươi năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, công cuộc đổi mới nước ta đã đạt được những thành tự to lớn:

– Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện.

– Kinh tế tăng trưởng nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh.

– Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.

– Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường.

– Chính trị xã hội ổn định.

– Quốc phòng và an ninh được giữ vững.

– Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao.

– Sức mạnh tổng hợp của quốc gia tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp.

Những thành tựu trên đã chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đứng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn, hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành những nét cơ bản.

2. Những hạn chế

– Nước ta vẫn trong tình trạng kém, phát triển. Kinh tế vẫn còn lạc hậu so với nhiều nước trong khu vực và thế giới.

– Các lĩnh vực văn hóa xã hội, xây dựng hệ thống chính trị còn nhiều yếu kém.

– Lý luận chưa giải đáp được một số vấn đề của thực tiễn đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội,…

3. Những bài học lớn

– Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

– Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp.

– Ba là, đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới.

– Bốn là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.

– Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.

Câu 10: Mục tiêu và quan điểm CNH, HĐH của đảng ta thời kỳ đổi mới.

a. Mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

– Mục tieu cơ bản là cải biến nước ta thành một nước cong nghiep co cơ sở

vật chất kỹ thuật hiện đại, co cơ cấu kinh tế hợp ly, quan hệ sản xuất tiến bộ

phù hợp với trình độ phat triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất v à

tinh thần cao, quốc phòng – an ninh vững chắc, dan giau, nước mạnh, xã hội

công bằng, văn minh.

– Đại hội X xac định mục tiêu cụ thể hiện nay la đẩy mạnh cong nghiệp hoa,

hiện đại hoa gắn với phat triển kinh tế tri thức để sớm đưa nước ta ra khỏi

tình trạng kem phat triển; tạo nền tảng đến năm 2020 đ ưa nước ta cơ bản trở

thanh nước cong nghiệp theo hướng hiện đại

b. Quan điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Một là, công nghiệp hoa gắn với hiện đại hoa và công nghiệp hoá, hiện đại

hoá gắn với phat triển kinh tế tri thức.

Hiện nay, tac động của cuộc cach mạng khoa học – công nghệ và xu thế hội

nhập toàn cầu hoa đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức đối với đất nước.

Nước ta cần phải và có thể tiến hành công nghiệp hoa theo kiểu rut ngắn thời

gian, không trải qua cac bước phat triển tuần tự từ kinh tế nong nghiệp l ên

kinh tế cong nghiệp rồi mới phat triển kinh tế tri thức.

Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đo sự sản sinh ra, phổ cập v à sử dụng tri

thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phat triển kinh tế, tạo ra của cải,

nâng cao chất lượng cuộc sống.

Hai là, công nghiệp hoa, hiện đại hoa gắn với phat triển kinh tế thị tr ường

định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.

– Công nghiệp hoa, hiện đại hoa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành

phần kinh tế, trong đo kinh tế nha nước giữ vai trò chủ đạo. Phương thức

phân bổ nguồn lực để cong nghiệp hoa được thực hiện chủ yếu bằng cơ chế

thị trường; trong đo, ưu tien những ngành, những lĩnh vực co hiệu quả cao.

– Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm khai thac thị tr ường thế giới để tiêu thụ

những sản phẩm ma nước ta co nhiều lợi thế, thu hut vốn đầu t ư nước ngoài,

thu hút công nghệ hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản ly ti ên tiến của thế

giới.

– Kết hợp sức mạnh dan tộc với sức mạnh thời đại để phat triển kinh tế v à

đẩy nhanh cong nghiệp hoa, hiện đại hoa.

Ba là, lấy phat huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phat triển

nhanh bền vững.

Trong năm yếu tố chủ yếu để tăng trưởng kinh tế (vốn, khoa học và công

nghe, con người, cơ cấu kinh tế, thể chế chinh trị và quản ly nha nước), con

người là yếu tố quyết định. Lực lượng can bộ khoa học và công nghệ, khoa

học quản ly va đội ngũ cong nhan lành nghề giữ vai trò đặc biệt quan trọng

đối với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hoa. Để nguồn lực con người

đap ứng yêu cầu, cần đặc biệt chu y đến phat triển giao dục, đ ào tạo.

Bốn là, khoa học và công nghệ là nền tảng va động lực của cong nghiệp

hóa.

Muốn đẩy nhanh qua trình công nghiệp hoa, hiện đại hoa gắn với phat

triển kinh tế tri thức thì phát triển khoa học cong nghệ là yêu cầu tất yếu và

bức xuc. Phải đẩy mạnh việc chọn lọc nhập cong nghệ, mua sang chế kết

hợp với phat triển cong nghệ nội sinh. Khoa học v à công nghệ cùng với giao

dục đào tạo được xem là quốc sach hang đầu, là nền tảng va động lực cho

công nghiệp hoa, hiện đại hoa…

Năm la, phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đoi

với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ moi trường tự nhiên,

bảo tồn đa dạng sinh học.

– Mục tiêu của cong nghiệp hoa và của tăng trưởng kinh tế là vì con người;

vì dân giàu, nước mạnh, xã hội cong bằng, dan chủ, văn minh.

– Bảo vệ moi trường tự nhiên và bảo tồn sự đa dạng sinh học chinh l à bảo vệ

điều kiện sống của con người và cũng là nội dung của sự phat triển bền

vững__

Câu 9: phân tích làm rõ quá trình đổi mới tư duy của Đảng về CNH – HĐH từ Đại Hội VI(1986) đến Đại Hội X(2006)

  1. a.     Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) phê phán sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hóa thời kỳ 1960 – 1985
    Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội VI của Đảng đã nghiêm khắc chỉ ra những sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hóa. Đó là:
    – Sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, v.v… Muốn xóa bỏ những bước đi cần thiết nên đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết, mặt khác chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.
    – Trong việc bố trí cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư: thiên về công nghiệp nặng và những công trình quy mô lớn, không tập trung sức giải quyết các vấn đề căn bản về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Kết quả là đầu tư nhiều nhưng hiệu quả thấp.
    – Không thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết Đại hội V: chưa thật sự coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, công nghiệp nặng không phục vụ kịp thời nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
    b. Quá trình đổi mới tư duy về công nghiệp hóa từ Đại hội VI đến Đại hội X
    – Đại hội VI của Đảng đã cụ thể hóa nội dung chính của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên thời kỳ quá độ là thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
    – Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (tháng 1/1994) có bước đột phá mới, trước hết ở nhận thức về khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa. “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ của khoa học – công nghệ, tạo ra năng xuất lao động xã hội cao”.
    – Đại hội VIII của Đảng (tháng 6/1996) nhận định nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội nêu sáu quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và định hướng những nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa những năm còn lại của thế kỷ XX. Sáu quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa là:
    + Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; dựa vào nguồn lực trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực từ bên ngoài; xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả.
    + Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo.
    + Lấy việc phát huy yếu tố con người làm yếu tố cơ bản cho việc phát triển nhanh, bền vững; động viên toàn dân cần kiệm xây dựng đất nước, không ngừng tăng cường tích lũy cho đầu tư và phát triển; tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường.
    + Khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định.
    + Lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển; lựa chọn dự án đầu tư công nghệ; đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực hiện có; trong phát triển mới, ưu tiên qui mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo việc làm, thu hồi vốn nhanh,…
    + Kết hợp kinh tế với quốc phòng.
    – Đại hội IX (tháng 4/2001) và Đại hội X (tháng 4/2006) của Đảng tiếp tục bổ sung và nhấn mạnh một số điểm mới về công nghiệp hóa:
    + Con đường công nghiệp hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước. Đây là yêu cầu cấp thiết của nước ta nhằm sớm thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Cần thực hiện các yêu cầu sau: phát triển kinh tế và công nghệ phải vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt; phát huy những lợi thế của đất nước, gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa, từng bước phát triển kinh tế tri thức; phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam, đặc biệt coi trọng phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xem đây là nền tảng và động lực cho công nghệp hóa.
    + Hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là phát triển nhanh và có hiệu quả các sản phẩm, các ngành, các lĩnh vực có lợi thế, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
    + Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
    + Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Câu 5: Tại sao từ những năm 1936 trở đi Đảng ta có chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng? trình bày nội dung cơ bản của việc điều chỉnh này?

  1. 1.     Từ 1936-1939

 Đảng chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng cho phù hợp với tình hình mới.

* Nguyên nhân:

–         Thế giới:

+ Chủ nghĩa phát xít ra đời và ráo riết chuẩn bị chiến tranh thế giới để chia lại thị trường thế giới và tiêu diệt Liên Xô thành trì của phong trào cách mạng thế giới.

+ Quốc tế cộng sản triệu tập Đại hội lần thứ VII( 7-1935) tại Matxcơva:

++ Vạch ra nhiệm vụ cho cách mạng thế giới là đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, giành dân chủ, hòa bình, bảo vệ Liên Xô.

++ Lập mặt trân nhân dân rộng rãi chống chủ nghĩa phát xít

++ Đối với những nước thuộc địa, mặt trận dân tộc thống nhất có tầm quan trọng đặc biệt

+ Ở nhiều nước, mặt trận nhân dân chống chủ nghĩa phát xít lần lượt ra đời

* Nội dung chuyển hướng:

Hội nghị Trung ương Đảng tháng 7-1936 họp tại Thượng Hải, Trung Quốc, do Đ/C Lê hồng Phong chủ trì đã chỉ rõ:

+ Nhiệm vụ chiến lược đánh đổ đế quốc và địa chủ, phong kiến không thay đổi nhưng nhiệm vụ, mục tiêu trước mắt của cách mạng Việt Nam lúc này là đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa và tay sai, chống phát xít và chiến tranh đế quốc, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình.

+ Hội nghị quyết định thành lập mặt trận thống nhất  nhân dân phản đế Đông Dương,( sau đổi tên thành MTDCĐD) bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị và tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, các dân tộc ở xứ Đông Dương “để cùng nhau tranh đấu đòi những điều dân chủ đơn sơ”

+ Hội nghị chủ trương thay đổi hình thức tổ chức và hình thức đấu tranh: chuyển từ đấu tranh bất hợp pháp là chủ yếu sang hình thức công khai, hợp pháp, nửa công khai là chủ yếu.

+ Hội nghị đặt vấn đề nhận thức lại mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, phản đế và điền địa trong cách mạng Đông Dương. Trong văn kiện “Chung quanh vấn đề chiến sách mới” của Đảng ( 10-1936), Đảng chỉ rõ:Công cuộc giải phóng dân tộc không nhất thiết phải gắn với cuộc cách mạng điền địa. Nếu nhiệm vụ chống đế quốc cần kíp hơn thì tập trung lực lượng đánh đổ đế quốc.

+ Về đoàn kết quốc tế: Phải xây dựng tình đoàn kết với giai cấp công nhân và ĐCS Pháp, ủng hộ Mặt trận nhân dân Pháp để cùng nhau chống kẻ thù chung là bọn phát xít ở Pháp và bọn phản động thuộc địa.

Đảng nhắc nhở không được mơ hồ giữa sách lược phân hóa kẻ thù với chủ nghĩa cải lương” Pháp- Việt đề huề”.

+ Về công tác xây dựng Đảng: không phải Đảng bỏ cách bí mật mà theo chủ nghĩa công khai. Đảng vẫn củng cố tổ chức và công tác  Đảng bí mật hơn xưa.

–         Chủ trương của hội nghị được bổ sung, phát triển ở các hội nghị TƯ tháng 3-1937, tháng 9-1937 và tháng 3-1938.

–          Tác phẩm “ Tự chỉ trích” của Tổng bí thư Nguyễn văn Cừ xuất bản năm 1939 đã tổng kết sự lãnh đạo của Đảng, rút kinh nghiệm vấn đề tập hợp lực lượng cách mạng

* Nhận xét:

Hội nghị TW tháng 7-1936 đánh dấu nhận thức đúng đắn của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc, giai cấp, hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến.

Tuy nhiên, nhận thức đúng đắn đó chưa được kiểm nghiệm trong thực tiễn

  1. 1.     Chủ trương chiến lược mới của Đảng  1939-1945

* Nguyên nhân:

–         Tình hình thế giới:

+ Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.

+ Chiến tranh sẽ làm cho các nước đế quốc suy yếu.

+ Phong trào cách mạng thế giới phát triển nhanh chóng.

+Cách mạng nhiều nước sẽ thành công.

–         Tình hình trong nước:

+ Chiến tranh đã ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta.

++ Chính phủ phản động Pháp đàn áp các lực lượng tiến bộ ở trong nước và các thuộc địa.

++ Ở Đông Dương, chính phủ phản động Pháp điên cuồng tiến công vào ĐCSĐD và các tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo. Nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt, bị tù đày.

++ Một số quyền tự do, dân chủ giành được trong thời kỳ 1936-1939 bị thủ tiêu. Hàng vạn thanh niên bị bắt sang Pháp làm bia đỡ đạn cho chúng.

++ Tháng 9-1940, Nhật vào Đông Dương, từ đó nhân dân ta bị một cổ hai tròng.

++ Mâu thuẫn giữa nhân dân ta với phát xít Pháp, Nhật ngày càng gay gắt

  • ND Chủ trương chiến lược mới của Đảng.

Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1939, 11-1940, 5-1941 đã đề ra, bổ sung và hoàn chỉnh chủ trương mới về vấn đề giải phóng dân tộc với một số nội dung cơ bản sau:

–         Phải đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Nhiệm vụ chống phong kiến và các nhiệm vụ dân chủ khác phải rải ra, thực hiện từng bước có kế hoạch, phục tùng và phục vụ nhiệm vụ chống đế quốc.

–         Phải đặt quyền lợi của dân tộc lên trên quyền lợi của bộ phận, của giai cấp. Trong điều kiện lịch sử mới,nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không giành được độc lập ,tự do thì quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.

–         Vấn đề dân tộc phải được giải quyết riêng trong phạm vi từng nước dựa trên nguyên tắc dân tộc tự quyết.

–         Để thực hiện nhiệm vụ trung tâm ấy, phải tập hợp mọi lực lượng chống đế quốc và bè lũ tay sai vào mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi.

–         Về khởi nghĩa vũ trang: Hội nghị TW tháng 5-1941 quyết định phải xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, coi đây là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng và toàn dân trong giai đoạn cách mạng hiện tại.

  • Nhận xét:

Từ năm 1930-1945, đây là thời kỳ đấu tranh để đi đến sự thống nhất về đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng.

Đến tháng 5-1941, tư tưởng đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu đã thống nhất trong toàn Đảng.

 Đó chính là sự kế tục, phát triển tư tưởng giải phóng dân tộc của Nguyễn ái Quốc được Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng thông qua.

Việc xác định, bổ sung, phát triển đường lối CMDTDCND của Đảng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

Câu 4: Trình bày nội dung luận cương chính trị (10/1930) từ đó chỉ ra hạn chế lịch sử của cương lĩnh này?

Sau hội nghị thành lập Đảng ngày 3-2-1930, cương lĩnh của Đảng đã được bí mật đưa vào quần chúng đẩy phong trào cách mạng lên cao. Tháng 4-1930 đồng chí Trần Phú về nước sau quá trình học tập tại trường Quốc tế Phương Đông. Tháng 7-1930 Trần Phú được bầu vào Ban chấp hành Trung ương lâm thời và được giao nhiệm vụ cùng với một số đồng chí soạn thảo Luận cương chuẩn bị cho hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị diễn ra từ ngày 14 đến ngày 30-10-1930 do đồng chí Trần Phú trủ chì. Hội nghị đã thông qua Luận cương chính trị của đồng chí Trần Phú. Hội nghị đã quyết định đổi tên Đảng thành Đảng cộng sản Đông Dương và bầu Trần Phú làm tổng bí thư.

Luận cương bao gồm những nội dung sau:

v    Nội dung của luận cương lĩnh chính trị tháng 10/1930

Phương hướng chiến lược của CMVN: “Tiến hành tư sản dân quyền CM, sau khi thắng lợi tiến tới phát triển bỏ qua thời kì tư bản mà tranh đấu thẳng lên con đường XHCN”

Nhiệm vụ của CM tư sản dân quyền:  Đánh đổ các di tích phong liến, đánh đổ mọi cách bóc lột, đánh đổ thực dân Pháp làm Đông Dương hoàn toàn toàn độc lập “trong đó vấn đề thổ địa là cái cốt lõi của CMTSDQ”

Lực lượng CM: giai cấp CN & giai cấp nông dân là động lực chính của CM, còn các tầng lớp bóc lột theo đế quốc tiểu tư sản thì do dự, tri thức phải hăng hái tham gia chống đế quốc lúc đầu chỉ những trí thức thất nghiệp và những phần tử lao khổ đô thị mới theo CM

Phương pháp CM: Đảng phải chuẩn bị cho quần chúng về “con đường võ trang bạo động” và “phải tuân theo khuôn phép nhà binh” đánh đổ chính phủ địch nhân, giành chính quyền

Về quan hệ quốc tế: CMVN là 1 bộ phận của CMTG phải đoàn kết với vô sản TG trước hết là vô sản Pháp và phong trào CM thuộc địa để tăng cường lực lượng của mình

Về Đảng: Phải có 1 Đảng với đường lối chính trị đúng, kỉ luật tập trung liên hệ mật thiết với quần chúng lấy chủ nghĩa Mác – Lenin làm gốc thì lãnh đạo mới đạt mục đích cuối cùng là CN cộng sản

* Nhận xét:

Bản luận cương đã khẳng định lại nhiều vấn đề mà cương lĩnh đã nêu ra: đường lối cách mạng, lực lượng cách mạng, đoàn kết quốc tế, vai trò lãnh đạo của Đảng. Luận cương của Trần Phú có những điểm sáng tạo hơn như đã đề ra phương pháp cách mạng, nguyên tắc Đảng của chủ nghĩa Mác-Lênin.

ü     Ưu điểm:

Luận cương 10/1930 làm sâu sắc nhiều vấn đề thuộc về chiến lược của CMVN mà cương lĩnh 2/1930 đã nêu

 

Hạn chế:

– Luận cương đã không vạch ra được đâu là mâu thuẫn chủ yếu của xã hội thuộc địa coi trọng vấn đề chống phong kiến không phù hợp với cách mạng Việt Nam.

– Không đề ra được mối liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh dân tộc và bọn tay sai.

– Đánh giá không đúng vai trò vị trí của các giai cấp tầng lớp khác do đó không lôi kéo được bộ phận có tinh thần yêu nước.

Nguyên nhân dẫn đến hạn chế của Luận cương:

– Do ảnh hưởng tư tưởng tả khuynh của Quốc tế cộng Sản

– Do không nắm được thực tiễn đất nước, không xác định được mâu thuẫn nào là mâu thuẫn chủ yếu dẫn tới không xác định được tầng lớp trung gian cũng là đối tượng của cách mạng.

So sánh Luận cương chính trị của Đảng( 10/1930) và Cương lĩnh chính trị( 2/1930).

v    So sánh với văn kiện tháng 2/1930

ü     Điểm giống nhau

Về phương hướng: CM tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, bỏ qua giai đoạn TBCN để đi tới xã hội cộng sản

Về nhiệm vụ: chống đế quốc, phong kiến để lấy lại ruộng đất và giành độc lập dân tộc.

Về lực lượng: chủ yếu là công nhân và nông dân.

Về phương pháp: sử dụng sức mạnh của số đông dân chúng Việt Nam cả về chính trị và vũ trang nhằm đạt mục tiêu cơ bản của cuộc CM là đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành chính quyền về tay công nông.

Về vị trí quốc tế: CM Việt Nam là một bộ phận khăng khít với CM thế giới đã thể hiện sự mở rộng quan hệ bên ngoài, tìm đồng minh cho mình.

Lãnh đạo cách mạng: là giai cấp vô sản thông qua Đảng cộng sản, Đảng là đội tiên phong

Sự giống nhau trên là do cả hai văn kiện đều thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin và cách mạng vô sản chiụ ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917

Khác nhau: